3/7/08

RAID là gì ?

Nhiều người có thể đã gặp thuật ngữ RAID, và có thể chưa hiểu, hoặc hiểu lơ mơ một chút rằng chúng là cách thiết lập các ổ cứng trong máy chủ, máy trạm hoặc một số máy tính cá nhân cao cấp (còn gọi là hàng "khủng"). Trong bài này tôi xin giới thiệu về chúng ở mức cơ bản nhất để người đọc hiểu được khái niệm, và nếu sau đó bạn muốn tìm hiểu sâu thêm thì có thể tiếp tục với một số nguồn tài liệu đã chỉ ra ở mục tham khảo của bài viết này.

Một cách định nghĩa cơ bản thì RAID (nhóm các chữ đầu của các từ tiếng Anh sau: Redundant Arrays of Independent Disks) là hình thức ghép nhiều ổ cứng vật lý thành một hệ ổ cứng có chức năng gia tăng tốc độ đọc/ghi dữ liệu hoặc nhằm tăng thêm sự an toàn của dữ liệu chứa trên hệ thống đĩa hoặc kết hợp cả hai yếu tố trên.

LỊCH SỬ

Lần đầu tiên RAID được phát triển năm 1987 tại trường Đại học California ở Berkeley với những đặc điểm chỉ ghép các phần đĩa cứng nhỏ hơn thông qua phần mềm để tạo ra một hệ thống đĩa dung lượng lớn hơn thay thế cho các ổ cứng dung lượng lớn giá đắt thời bấy giờ.

Mặc dù hiện nay không tồn tại nữa, nhưng Hội đồng tư vấn phát triển RAID (RAID Advisory Board: Viết tắt là RAB) đã ra thành lập tháng 7 năm 1992 để định hướng, lập ra các tiêu chuẩn, định dạng cho RAID. RAB đã phân ra các loại cấp độ RAID (tôi dịch từ từ: level), các tiêu chuẩn phần cứng sử dụng RAID. RAB đã phân ra 7 loại cấp độ RAID từ cấp độ 0 đến cấp độ 6. Cấp độ ở đây không được hiểu rằng cứ cấp độ cao là cao cấp hoặc là "đời sau", mà chúng chỉ phân biệt rằng giữa loại RAID này và loại RAID khác, (nhưng lại được sử dụng để giải thích giữa các loại với nhau).

CÁC LOẠI RAID CHUẨN

Theo RAB thì RAID được chia thành 7 cấp độ (level), mỗi cấp độ có các tính năng riêng, hầu hết chúng được xây dựng từ hai cấp độ cơ bản là RAID 0 và RAID 1.

RAID 0

RAID 0

RAID 0 là cấp độ cơ bản: Các dữ liệu cần chứa trên hệ thống RAID 0 được phân tách thành hai phần để chứa trên tối thiểu hai ổ cứng khác nhau.

Một cách đơn giản nhất, ta có thể hiểu theo ví dụ sau: Có hai ổ cứng: Ổ 0 và ổ 1 (trong tin học thường đánh số thứ tự bắt đầu từ số 0 - điều này hơi khác thường đối với tư duy của bạn, nhưng nếu như bạn muốn hiểu về nó thì hãy chấp nhận như vậy), với dữ liệu mang nội dung A (có thể phân tách thành hai phần dữ liệu bằng nhau là A1 và A2) sẽ được ghi lại ở cùng trên hai đĩa: Đĩa 0 ký tự dữ liệu A1 và đĩa 1 chứa dữ liệu A2. Khi đọc dữ liệu A này thì đồng thời cả hai ổ cứng đều hoạt động, cùng lấy ra dữ liệu A1 và A2 trên mỗi ổ cứng. Hệ điều hành sẽ tiếp nhận được nguyên vẹn nội dung dữ liệu A như nó được ghi vào.

Qua ví dụ trên có thể nhận thấy rằng tốc độ đọc và ghi dữ liệu của hệ thống RAID 0 được tăng lên gấp đôi (cùng một thời điểm cùng đọc và cùng ghi trên cả hai ổ cứng vật lý khác nhau). Do đó RAID 0 rất phù hợp với các hệ thống máy chủ, các máy tính của game thủ khó tính hoặc các máy tính phục vụ việc đọc/ghi dữ liệu với băng thông cao. Ở máy chủ, ta biết rằng việc truy cập dữ liệu để phục vụ người truy xuất được tiến hành hầu như đồng thời (ví dụ bạn đang truy cập vào máy chủ chứa các nôi dung của blog này, thấy rằng trong một thời điểm thì không chỉ có bạn, mà còn có rất nhiều người khác cùng tham gia truy cập, như vậy nếu như máy chủ chỉ có một ổ cứng thì việc truy cập sẽ rất chậm)

Cũng trong ví dụ trên, nếu như xảy ra hư hỏng một trong hai ổ cứng thì sẽ ra sao ?. Câu trả lời là dữ liệu sẽ mất hết, bởi dữ liệu cùng được tách ra ghi ở hai đĩa không theo dạng hoàn chỉnh. Trong ví dụ trên, nếu như chỉ còn một chữ A1 (hoặc A2) thì hệ thống không thệ nhận biết chính xách đầy đủ dữ liệu được ghi vào là A. Vậy đặc điểm của RAID 0 sẽ là làm tăng băng thông đọc/ghi dữ liệu, nhưng cũng làm tăng khả năng rủi ro của dữ liệu khi hư hỏng ổ cứng.

RAID 1

RAID 1

RAID 1 cũng là một cấp độ cơ bản. Từ các nguyên lý của RAID 0 và RAID 1 có thể giải thích về các cấp độ RAID khác.

RAID 1 là sự kết hợp của ít nhất hai ổ cứng trong đó dữ liệu được ghi đồng thời trên cả hai ổ cứng đó. Lặp lại ví dụ trên: Nếu dữ liệu có nội dung A được phân tách thành A1, A2 thì RAID 1 sẽ ghi nội dung A được ghi tại đồng thời cả hai ổ cứng 0 và ổ cứng 1 (xem hình RAID 1).

Mục đích của RAID 1 là tạo ra sự lưu trữ dữ liệu an toàn. Nó không tạo ra sự tăng tốc độ đọc và ghi dữ liệu (tốc độ đọc/ghi tương đương với chỉ sử dụng duy nhất một ổ cứng). RAID 1 thường sử dụng trong các máy chủ lưu trữ các thông tin quan trọng. Nếu có sự hư hỏng ổ cứng xảy ra, người quản trị hệ thống có thể dễ dàng thay thế ổ đĩa hư hỏng đó mà không làm dừng hệ thống. RAID 1 thường được kết hợp với việc gắn nóng các ổ cứng (cũng giống như việc gắn và thay thế nóng các thiết bị tại các máy chủ nói chung).

RAID 2

RAID 2 thì ít được sử dụng trong thực tế, cũng có ít tài liệu nói về nó do đó tôi chưa tìm hiểu kỹ được. Trên trang AC&NC Raid có giải thích về RAID 2 bằng hình như sau:

Như vậy RAID 2 gồm hai cụm ổ đĩa, cụm thứ nhất chứa các dữ liệu được phân tách giống như là RAID 0, cụm thứ hai chứa các mã ECC dành cho sửa chữa lỗi ở cụm thứ nhất. Sự hoạt động của các ổ đĩa ở RAID 2 là đồng thời để đảm bảo rằng các dữ liệu được đọc đúng, chính do vậy chúng không hiệu quả bằng một số loại RAID khác nên ít được sử dụng.

RAID 3

RAID 3

RAID 3 là sự cải tiến của RAID 0 nhưng có thêm (ít nhất) một ổ cứng chứa thông tin có thể khôi phục lại dữ liệu đã hư hỏng của các ổ cứng RAID 0. Giả sử dữ liệu A được phân tách thành 3 phần A1, A2, A3 (Xem hình minh hoạ RAID 3), khi đó dữ liệu được chia thành 3 phần chứa trên các ổ cứng 0, 1, 2 (giống như RAID 0). Phần ổ cứng thứ 3 chứa dữ liệu của tất cả để khôi phục dữ liệu có thể sẽ mất ở ổ cứng 0, 1, 2. Giả sử ổ cứng 1 hư hỏng, hệ thống vẫn hoạt động bình thường cho đến khi thay thế ổ cứng này. Sau khi gắn nóng ổ cứng mới, dữ liệu lại được khôi phục trở về ổ đĩa 1 như trước khi nó bị hư hỏng.

Yêu cầu tối thiểu của RAID 3 là có ít nhất 3 ổ cứng.

RAID 4

RAID 4 tương tự như RAID 3 nhưng ở một mức độ các khối dữ liệu lớn hơn chứ không phải đến từng byte. Chúng cũng yêu cầu tối thiểu 3 đĩa cứng (ít nhất hai đĩa dành cho chứa dữ liệu và ít nhất 1 đĩa dùng cho lưu trữ dữ liệu tổng thể)

RAID 5

RAID 5 thực hiện chia đều dữ liệu trên các ổ đĩa giống như RAID 0 nhưng với một cơ chế phức tạp hơn. Theo anh Hoàng Linh thì giải thích như sau (xem ở nguồn tham khảo, tôi trích nguyên văn ra đây): "Đây có lẽ là dạng RAID mạnh mẽ nhất cho người dùng văn phòng và gia đình với 3 hoặc 5 đĩa cứng riêng biệt. Dữ liệu và bản sao lưu được chia lên tất cả các ổ cứng. Nguyên tắc này khá rối rắm. Chúng ta quay trở lại ví dụ về 8 đoạn dữ liệu (1-8) và giờ đây là 3 ổ đĩa cứng. Đoạn dữ liệu số 1 và số 2 sẽ được ghi vào ổ đĩa 1 và 2 riêng rẽ, đoạn sao lưu của chúng được ghi vào ổ cứng 3. Đoạn số 3 và 4 được ghi vào ổ 1 và 3 với đoạn sao lưu tương ứng ghi vào ổ đĩa 2. Đoạn số 5, 6 ghi vào ổ đĩa 2 và 3, còn đoạn sao lưu được ghi vào ổ đĩa 1 và sau đó trình tự này lặp lại, đoạn số 7,8 được ghi vào ổ 1, 2 và đoạn sao lưu ghi vào ổ 3 như ban đầu. Như vậy RAID 5 vừa đảm bảo tốc độ có cải thiện, vừa giữ được tính an toàn cao. Dung lượng đĩa cứng cuối cùng bằng tổng dung lượng đĩa sử dụng trừ đi một ổ. Tức là nếu bạn dùng 3 ổ 80GB thì dung lượng cuối cùng sẽ là 160GB".

RAID 5 cũng yêu cầu tối thiểu có 3 ổ cứng.

RAID 6

RAID 6

RAID 6 phần nào giống như RAID 5 nhưng lại được sử dụng lặp lại nhiều hơn số lần sự phân tách dữ liệu để ghi vào các đĩa cứng khác nhau. Ví dụ như ở RAID 5 thì mỗi một dữ liệu được tách thành hai vị trí lưu trữ trên hai đĩa cứng khác nhau, nhưng ở RAID 6 thì mỗi dữ liệu lại được lưu trữ ở ít nhất ba vị trí (trở lên), điều này giúp cho sự an toàn của dữ liệu tăng lên so với RAID 5.

RAID 6 yêu cầu tối thiểu 4 ổ cứng.

Trong RAID 6, ta thấy rằng khả năng chịu đựng rủi ro hư hỏng cứng được tăng lên rất nhiều. Nếu với 4 ổ cứng thì chúng cho phép hư hỏng đồng thời đến 2 ổ cứng mà hệ thống vẫn làm việc bình thường, điều này tạo ra một xác xuất an toàn rất lớn. Chính do đó mà RAID 6 thường chỉ được sử dụng trong các máy chủ chứa dữ liệu cực kỳ quan trọng.

CÁC RAID KHÔNG TIÊU CHUẨN

Trên thực tế thì việc ghép các ổ cứng thành hệ thống RAID không hoàn toàn tuân thủ như các cấp độ như trên, mà chúng đã được biến đổi đi theo các cách khác nữa. Hiện nay có các loại RAID 10, RAID 50 và RAID 0+1. Tuy nhiên do giới hạn hiểu biết về RAID của bản thân nên tôi cũng chỉ cung cấp cho bạn một cái nhìn cơ bản về RAID còn những sự nghiên cứu sâu hơn - xin hãy đọc các tài liệu kèm theo ở mục dưới, và tìm thêm trên Internet.

QUA RAID Ở CÁC MÁY CHỦ, NGHĨ ĐẾN PC CÁ NHÂN

Ngoài lý do về tăng tốc độ truy cập dữ liệu trên hệ thống đĩa cứng, sự ra đời của các chuẩn RAID còn đảm bảo sự an toàn dữ liệu của hệ thống. Qua đây ta thấy rằng người ta đã rất quan trọng việc đảm bảo an toàn dữ liệu cho máy tính và đặc biệt là cho máy chủ.

Giả sử, các máy chủ của một website bị hư hỏng một ổ cứng, chúng sẽ làm mất dữ liệu nếu như không có quá trình sao lưu dự phòng. Nếu dữ liệu này lại quan trọng đến mức thay đổi theo thời gian thực (chỉ một khoảng thời gian ngắn thì dữ liệu đã được sửa chữa, thay đổi) thì việc sao lưu quả là khó khăn nếu không sử dụng các loại RAID. Tại sao lại thế, bởi vì việc sao lưu dữ liệu định kỳ chỉ giúp cho ta lấy lại dữ liệu ở thời điểm lưu lại, còn những giữ liệu từ thời điểm đó cho đến lúc hư hỏng có thể bị mất.

Bạn có thể không chứa các dữ liệu quan trọng của mình bởi có thể chúng chỉ là một vài tập tin văn bản bình thường, nhưng đối với các dữ liệu quan trọng liên quan đến tài chính chẳng hạn thì việc mất dữ liệu là một tai hoạ lớn, làm ảnh hưởng không những đến công ty mà còn đến các khách hàng của công ty đó.

Và thử hình dung, ổ cứng trong máy tính của bạn bị hỏng đột ngột ngay lúc này, bạn sẽ cảm nhận được sự cần thiết phải sao lưu là như thế nào. Có lẽ không đơn thuần là các tập tin văn bản mà dễ dàng có thể soạn lại, mà các bảng tính, các tập hợp và kết quả làm việc của bạn trong thời gian gần đây đã bị mất hết theo chúng. Chắc là bạn sẽ rất bực bội, và cuối cùng là đã hối tiếc rằng đã không sao lưu các dữ liệu đó lại một cách thường xuyên, định kỳ.

___________

THAM KHẢO

- Upgrading and Repairing Pcs, 17th Edition, Scott Mueller (ISBN-10: 0789734044); Có thể mua tại Amazon (phiên bản mới nhất: ISBN-10: 0789719037)

- RAID cho máy tính để bàn, Nguyễn Thúc Hoàng Linh (email: valkyrie.lenneth@usa.com) đăng trên Quản Trị Mạng (theo PC World VN), 10/8/2005.

- Raid.com

XEM THÊM

- RAID, mục từ cùng tên trên Wikipedia tiếng Anh. (bản tiếng Việt...hình như là tôi viết nên còn kém hơn ở đây^^).

- Hướng dẫn xây dựng RAID cho máy PC, Phạm Vĩnh Duy (Theo PC Magazine) trên Thông tin Công nghệ, 01/2008

- Raid là gì? trên Diễn đàn tin học;

Trương Mạnh AN (2008)

2/7/08

Second Copy và thủ thuật sao lưu dữ liệu

Ở bài viết trước (Phân tách dữ liệu của bạn ra khỏi Windows XP), bạn có thể nhận thấy sự mất dữ liệu thành quả lao động của bạn là một điều tai hoạ. Có quá nhiều nguyên nhân gây mất dữ liệu: Do virus phá hoại, hư hỏng ổ cứng đột ngột hoặc là bị vô tình xoá đi bởi chính bạn.

Trong bài này, tôi trình bày một phần kinh nghiệm của mình trong việc sao lưu, bảo quản dữ liệu nhằm hạn chế các rủi ro mất mát do các nguyên nhân chủ quan cũng như khác quan. Cách thức sao lưu này khá an toàn bởi chúng thường được chứa dữ liệu trên một ổ đĩa phần cứng khác nên có thể ngăn ngừa được sự cố mất dữ liệu do hỏng ổ đĩa hiện tại. Đặc điểm nổi trội nhất là toàn bộ quá trình sao lưu theo các chu kỳ hoàn toàn tự động do một phần mềm thực hiện.

Giới thiệu
Dưới đây là hình ảnh của phần mềm này khi chưa có bất kỳ một sự thiết đặt nào cả (hình này do tôi phải xoá hết các cái cũ để dùng cho minh hoạ), bạn sẽ thấy rằng phiên bản mới nhất cho tới thời điểm viết bài là Second Copy phiên bản 7.1.

Second Copy
Thực ra thì phiên bản này không phải là mới, chúng được thừa kế trên các phiên bản Second Copy 98, Second Copy 2000 rồi mới ra đời phiên bản Second Copy 7 này. Chúng đã từng phục vụ cho Windows 98, Windows 2000 và giờ đây thì còn hỗ trợ cả với Windows XP, hay Vista mới nhất trong họ hệ điều hành của Microsoft. Đối với hệ điều hành mã nguồn mở thì các phần mềm này chưa có phiên bản làm việc trên chúng.

Hãy xem một doạn giới thiệu về nó ở một bài viết trên một website phổ biến kiến thức trước đây như sau: Second Copy 2000 là một phần mềm giúp bạn sao lưu những dữ liệu quan trọng từ ổ cứng của bạn và lưu lại vào bất kỳ thư mục, ổ cứng hay máy tính khác nằm trong mạng. Sau mỗi lần sao lưu, Second Copy 2000 sẽ kiểm tra chặt chẽ file nguồn, file đích để phát hiện sự thay đổi và cập nhật bản sao chép của bạn một cách tự động sau một khoảng thời gian do bạn quy định để cho bản sao chép của bạn luôn luôn mới nhất và đầy đủ nhất. Second Copy 2000 cho phép bạn tạo nhiều profile, mỗi profile là một partition hay một folder[3].

Nhược điểm lớn của Second Copy là chúng khó thực hiện với các tập tin và thư mục được đặt tên theo Unicode, điều này tôi đã gặp phiền toái với nó (cũng có một số người khác công nhận nhược điểm này[4]) do đó mà để sử dụng nó thì bạn không được đặt toàn bộ tên tập tin cũng như thư mục bằng tiếng Việt, hãy đặt tên bằng tiếng Việt không có dấu hoặc tiếng Anh.

Thiết lập sự sao lưu
Bạn vào New Profile (trong File), ở đây có hai lựa chọn:
  • Express setup: cài đặt nhanh, có tính tuỳ biến không cao, dành cho người sử dụng bình thường
  • Custom setup: Cài đặt chi tiết hơn, tôi hướng dẫn bạn theo cách này, sau đó thì bạn có thể quay lại thực hiện cách trên vẫn được.
Sau khi bấm "Next", bạn sẽ thấy phần "Souce folder", ở đây bạn gõ đường dẫn thư mục muốn sao lưu lại, chẳng hạn bạn chọn thư mục "D:\!SYSTEMS" là mục nguồn có chứa dữ liệu. Bạn có thể bấm vào nút "Browse" ở bên cạnh để chỉ việc click chuột cho lựa chọn này.

Bấm Next, bạn sẽ sang phần "Which files?", ở đây có hai lựa chọn:
  • All files and folders: Sao lưu toàn bộ các file trong đó! Tôi nghĩ bạn chọn cách này để sao lưu toàn bộ.
  • Only selected files and folders: Chỉ sao lưu các tập tin và thư mục lựa chọn mà thôi.
Bấm Next, bạn sẽ đến phần nhập thư mục đích (destionation folder). Đây chính là thư mục mà Second Copy sẽ lưu lại dữ liệu của bạn từ thư mục nguồn đã nói ở trên một cách tự động. Bạn cũng có thể gõ đường dẫn thư mục hoặc là chỉ ra thư mục đó bằng nút "browse" ở bên phải.

Bấm Next, bạn đến phần "When?" tức là "Khi nào thì tiến hành sao lưu". Ở đây thì có quá nhiều lựa chọn cho bạn.

Theo chế độ mặc định thì trong phần "Frequency" (tần suất thực hiện) sẽ được lựa chọn "Every few hours" (trong một vài giờ), mà sẽ có một phần lựa chọn "Hours" cho phép bạn lựa chọn cứ sau bao nhiêu giờ thì Second Copy sao lưu một lần - ở mặc định thì nó là 2 giờ/lần sao lưu.

Phần này có quá nhiều lựa chọn, bạn nên chú ý lựa chọn phù hợp nhất cho mình.

Bấm tiếp Next, bạn sẽ đến phần "How?" (sao lưu dữ liệu như thế nào?)Second Copy
Ở đây cũng có quá nhiều tuỳ biến để lựa chọn, bạn có thể chọn từ loại copy đơn thuần hoặc là so sánh nguồn-đích hoặc cho đến cả nén lại để bảo mật tại thư mục đích.

Phần này rất quan trọng, mỗi lựa chọn của nó sẽ quyết định đến toàn bộ phương thức làm việc của profile đó:
  • Simple Copy với cách giải thích đơn thuần là sao lưu dữ liệu từ thư mục nguồn đến thư mục đích (copy source to destination).
  • Exact Copy: thực hiện việc sao lưu từ thư mục nguồn đến thư mục đích, nhưng lại xoá các tập tin cũ hơn ở thư mục đích nếu như có một phiên bản mới hơn của tập tin đó tại thư mục nguồn. Lưu ý rằng phiên bản mới hơn có nghĩa là chúng có thời gian được sửa đổi gần nhất với thời gian hiện tại, kích thước phiên bản mới có thể lớn hoặc nhỏ hơn so với phiên bản cũ.
  • Move: Đơn thuần là di chuyển tập tin, thư mục từ thư mục nguồn tới thư mục đích. Xin cẩn trọng với lựa chọn này bởi vì chúng sẽ xoá toàn bộ tập tin và thư mục trên thư mục nguồn.
  • Compress: Nén tất cả các tập tin từ thư mục nguồn vào một tập tin nén. Rất phù hợp với thư mục nguồn là các tập tin dạng có thể nén tốt như các tập tin văn bản. Phù hợp với thư mục đích là các thiết bị nhớ USB flash có dung lượng thấp.
  • Exact Compress: Nén toàn bộ tập tin thư mục nguồn vào một tập tin nén, nhưng lại có cơ chế loại bỏ các loại tập tin có phiên bản cũ hơn.
  • Synchronize: Đồng bộ giữa thư mục nguồn và thư mục đích: Ở đây hơi phức tạp một chút: Nó tựa như việc so sánh giữa thư mục nguồn và thư mục đích - nếu như ở đâu có các tập tin mới hơn là chúng sẽ sao chép sang nơi ngược lại. Như vậy thì có vẻ nói "nguồn" và "đích" sẽ không còn đúng cho lắm. Tôi nghĩ rằng cách đồng bộ này phù hợp với việc một người làm việc trên hai máy tính khác nhau - ví dụ như tôi có thể vừa làm trên laptop lúc này, lại làm ở desktop lúc khác mà không phải sao chép các tập tin đang làm dở ở trên máy tính còn lại, chỉ việc chạy Second Copy là chúng tự đồng bộ hai thư mục khác nhau là xong.
Các lựa chọn ở trên sẽ giúp bạn lựa chọn đúng cho mục đích sao lưu của mình. Từ những sự lựa chọn này mà cho phép tuỳ biến tất cả các phương thức sao lưu khác nhau mà tôi chưa nhận thấy các tính năng sao lưu được tích hợp sẵn trên các hệ điều hành có được.

Bấm Next tiếp, bạn sẽ đến phần "Finish" để hoàn thành một Profile. Ở đây Second yêu cầu bạn đặt tên cho profile này, bạn nên đặt cho nó một cái tên theo đúng ý nghĩa của việc copy này. Nếu bạn thấy khó hiểu và chưa biết đặt tên gì thì cứ lấy tên thư mục nguồn ra đặt để dễ nhớ, cách đổi tên sau này vẫn có thể thực hiện được.

Sau khi bấm nút hoàn thành này thì Second Copy có thể sẽ thực hiện việc sao lưu dữ liệu ngay (nếu như bạn không lựa chọn chế độ Manual (tự mình quyết định sao lưu) trong phần "When?". Lưu ý rằng việc sao lưu này chiếm rất nhiều bộ xử lý nếu máy tính có cấu hình thấp hoặc cài đặt một phần mềm bảo mật thường trực bởi tựa như một sự sao chép các tập tin thông thường thì phần mềm diệt virus sẽ bắt đầu quét virus trong bất kỳ hành động nào.

Second Copy không giới hạn số Profile, bạn có thể tạo ra rất nhiều các profile khác nhau cho việc sao lưu các thư mục chứa dữ liệu khác nhau riêng biệt nằm có thể sao lưu toàn bộ các dữ liệu của bạn.

Mẹo tối ưu với sự sao lưu dữ liệu của bạn
Sao lưu dữ liệu trên máy tính thông thường (một ổ cứng vật lý)
Trên máy tính cá nhân thông thường sẽ có một ổ cứng vật lý, chúng có thể được chia thành nhiều phân vùng và đặt tên là C, D, E... và có thể được người sử dụng gọi là ổ C, ổ D, ổ E...nhưng thực chất thì chúng chỉ nằm trong một ổ cứng duy nhất.
Trường hợp này, việc sao lưu dữ liệu tuy không hạn chế được rủi ro do hư hỏng ổ cứng, nhưng chúng có thể giúp ta bảo vệ được dữ liệu chính bị phá bởi virus, bị vô tình xoá đi bởi chính người sử dụng, hoặc có thể tìm được một phiên bản trước đây của file dữ liệu khi chưa bị sửa đổi (trường hợp phiên bản trước của file rất hữu ích khi mà ta sửa đổi nhầm, xoá từng đoạn nhưng lại muốn khôi phục lại mà công cụ Undo không còn thực hiện được).

Tối ưu sao lưu dữ liệu với PC có hai ổ cứng vật lý:
Nếu chiếc máy tính của bạn có hai ổ cứng thì thật là tuyệt vời, bạn có thể sao lưu dữ liệu một cách rất an toàn bởi khả năng rủi ro được giảm đi gần đến 0 (không có rủi ro chỉ khi chắc chắn rằng không xảy ra hư hỏng đồng thời cả hai ổ cứng mà thôi). Lưu ý rằng hai ổ cứng có nghĩa là hai ổ cứng vật lý thật - chứ không phải là hai phân vùng trên cùng một ổ cứng[5][6].

Nếu có hai ổ cứng đồng thời thì bạn nên thiết đặt toàn bộ dữ liệu làm việc, dữ liệu quan trọng của bạn lên ổ cứng thứ nhất (không chứa hệ điều hành), rồi dùng Second Copy thường xuyên sao lưu dữ liệu sang ổ cứng thứ hai (chẳng hạn là ổ cứng chứa hệ điều hành). Cách này khiến cho nếu dữ liệu của ổ cứng thứ nhất bị hư hỏng thì còn lại phần dữ liệu trên ổ cứng thứ hai - và ngược lại.

Không có hai ổ cứng? Sao lưu bằng USB flash cũng được
Nếu bạn không có hai ổ cứng? Bạn ngại rằng một ngày nào đó các dữ liệu sẽ bị mất hết nếu hư hỏng ổ cứng? Không sao, nếu bạn có một thiết bị lưu trữ ngoài USB flash thì vai trò của nó cũng có thể coi như một ổ cứng thứ hai của mình. Các bước thiết lập sao lưu hoàn toàn giống như ở các bước trên. Tuy nhiên ở đây chỉ có một điều rằng bạn nên thiết đặt thư mục đích là một thư mục trên chính USB flash của bạn (hoặc ổ cứng gắn ngoài).

Có một số lời khuyên về các lựa chọn sao lưu phù hợp với các loại USB flash gắn ngoài như sau (đây là cách mà theo đánh giá chủ quan của tôi là rất hợp lý)
  • Nếu như ổ USB flash của bạn có dung lượng lớn hơn so với các dữ liệu cần sao lưu thì bạn nên chọn phương pháp sao lưu toàn bộ các thư mục chứa dữ liệu lên một thư mục tổng, rồi đặt một profile sao lưu thư mục tổng này đến ổ USB theo như cách thông thường - coi chúng như một thư mục như trên ổ cứng.
  • Nếu như ổ USB flash của bạn có dung lượng nhỏ hơn so với dữ liệu định sao lưu thì hi vọng rằng lựa chọn sao lưu tới tập tin nén (ZIP) có thể cho phép bạn thực hiện việc sao lưu tới các ổ USB flash này.
  • Thời gian thực hiện sao lưu: Nên thực hiện vào gần cuối mỗi buổi làm việc của bạn. Ví dụ như tôi thường hết giờ làm việc vào lúc bốn rưỡi chiều, vậy thì tôi thiết đặt sao lưu tự động vào lúc bốn rưỡi kém mười lăm phút là phù hợp.
Việc sao lưu qua ổ USB flash có khi nào làm cho bạn gặp phiền toán về sao lưu nhầm hay không? Có nghĩa là thay vì bạn đang sao lưu vào chiếc USB flash mà mình sở hữu thì phần mềm lại chuyển các dữ liệu quan trọng của bạn cho một ổ USB flash của người khác đang vô tình cắm vào máy tính của bạn? Để hạn chế hành động nhầm lẫn tai hại này thì bạn nên lựa chọn thêm về chỉ thực hiện sao lưu đối với các ổ USB flash có một tên gọi nhất định theo đúng như thiết bị mà bạn có.

Sao lưu qua mạng nội bộ
Second Copy cho phép bạn sao lưu từ các thư mục nguồn trên máy tính của bạn hoặc trên một máy tính khác trong mạng nội bộ của mình đến một thư mục trên máy tính của mình cũng như máy tính khác. Ở đây điều kiện thực hiện là khả năng chia sẻ các tập tin và thư mục trên các máy tính như thế nào mà thôi.

Việc sao lưu qua mạng nội bộ có thể cần bạn thực hiện qua một số thao tác khác trên các máy tính trong mạng để đảm bảo rằng nếu như thư mục đích ở một máy tính khác thì thư mục này phải có đặc tính chia sẻ đầy đủ (có thể ghi và xoá tập tin được). Còn lại là việc xác định đường dẫn đến máy tính khác là bạn có thể copy và paste đường dẫn (hoặc browse) thì tương tự như đối với trên chính máy tính bạn kiểm soát.

Đối với các thư mục ảo trên Internet, bạn cũng thực hiện như vậy, có nghĩa là làm sao để Second Copy có thể nhìn thấy thư mục của bạn. Vì những lý do về bảo mật nên bạn hết sức chú ý đến các vấn đề sao lưu đến các máy tính khác trên mạng nội bộ hoặc trên Internet.

Trên thực tế thì tôi đã thiết đặt cho Second Copy sao lưu dữ liệu quan trọng từ laptop đến desktop cả ở nơi làm việc và ở nhà để dữ liệu đảm bảo an toàn nhất về dữ liệu.
Chú thích:
1^. Trang download của phần mềm Second Copy. Ở đây có phiên bản dùng thử, nếu bạn thấy hài lòng thì mới có thể dùng lâu dài và trả tiền bản quyền cho phần mềm này.
2^ "What's new" của phiên bản Second Copy 7. Ở đây có một số thông tin về tính năng mà bạn sẽ hiểu hơn về Second Copy.
3^. Second Copy 2000 Sao lưu dữ liệu tự động, Minh Châu trên website Lê Hoàn (đã đăng trên NLĐ, VnE), 2001.
4^. Second copy - phần mềm backup, bởi Netfree trên VSIC.
5^. Quy hoạch bộ nhớ trong Windows, trên blog này - với ý nghĩa phân biệt rõ hơn về cách gọi tên gữa các phân vùng (partition) và ổ cứng vật lý.
6^. Ổ cứng, trên blog này, entry này muốn giới thiệu một chút cơ bản về ổ cứng. (trước đây tôi viết mục từ này có tên "ổ cứng" sau đó có người đề nghị đổi tên thành "ổ đĩa cứng", khi lấy phần "của tôi" về blog thì tôi lại đặt lại tên cũ là "ổ cứng" như một thói quen dùng từ trước đây của tôi^^)
7^. Kết quả tìm kiếm với Google cụm từ: "second copy"+"software" đến ngày 01/7/2008 gồm khoảng 500.000 kết quả ở trang kết quả đầu tiên. Ở đây tôi muốn giới thiệu cách tìm kiếm một cách hiệu quả khi ghép hai hoặc nhiều yếu tố để tìm kiếm một kết quả. Thực sự là tôi thấy rằng một số người tìm kiếm thông tin với các từ khoá một cách rất hài hước.
8^. Phân tách dữ liệu của bạn ra khỏi Windows XP, entry này nói về việc quản lý dữ liệu tốt hơn trong Windows XP để đề phòng hư hỏng hệ điều hành, cũng là entry mà tôi hứa viết entry về Second Copy này.
Mời xem thêm:
RAID là gì? Hãy đọc thêm entry này để biết việc các máy chủ (server) cung cấp dịch vụ email, blog, website...đã phải thực hiện tốn kém như thế nào so với cách sao lưu rất đơn giản của bạn bằng Second Copy nhé.
Chống virus lây lan qua USB flash với TweakUI, nếu bạn đã dùng USB flash thì tôi mong muốn bạn đọc qua entry này, nó thực sự là rất hữu ích đấy.
Trương Mạnh An (7/2008)